Ba loại đá mặt bếp hay được gọi là "nhập khẩu" mỗi loại mạnh một kiểu. Granite tự nhiên chịu nhiệt, chịu xước tốt nhưng có lỗ rỗ, cần chống thấm. Thạch anh nhân tạo đều màu, ít thấm, dễ lau nhưng kỵ đặt nồi nóng trực tiếp. Đá nung kết chịu nhiệt, chịu nắng, tấm mỏng nhẹ nhưng giòn ở cạnh và khó gia công. Chọn theo cách nấu của nhà mình trước, phong cách sau.
Mặt đá là phần nằm ngay tầm mắt và tay, nên thường là chỗ người ta chi mạnh nhất trong bộ bếp. Cũng vì vậy mà nó là chỗ nhiều lời quảng cáo nói quá: "không bao giờ ố", "chịu nhiệt tuyệt đối", "không trầy". Không loại nào như vậy cả.
Phần dưới so sánh ba loại theo những gì xảy ra thật trong một căn bếp ở TP.HCM, nói thêm vì sao mặt đá đẹp vẫn có thể làm hỏng tủ gỗ bên dưới, và đo đá vào lúc nào cho khỏi hở.
Ba loại đá khác nhau ra sao khi dùng hằng ngày?
Bảng so sánh theo tính chất chung của từng nhóm. Mỗi dòng sản phẩm cụ thể có thể khác, nên luôn đọc tài liệu của hãng.
| Tiêu chí | Thạch anh nhân tạo | Granite tự nhiên | Đá nung kết |
|---|---|---|---|
| Thành phần | Bột thạch anh gắn bằng nhựa | Đá khai thác, cắt tấm | Khoáng nung ở nhiệt độ rất cao |
| Nồi nóng đặt trực tiếp | Không nên, nhựa có thể ố, nứt | Chịu tốt | Chịu tốt |
| Thấm dầu, nước màu | Ít thấm | Có lỗ rỗ, cần phủ chống thấm | Gần như không thấm |
| Trầy xước | Khá tốt | Rất tốt | Rất tốt |
| Cạnh và góc | Ổn, mài bo được | Ổn, mài nhiều kiểu cạnh | Giòn, dễ mẻ khi va |
| Màu và vân | Đều, nhiều màu trơn | Mỗi tấm một khác | Vân in, có thể chỉ ở bề mặt |
| Nắng chiếu lâu | Có thể ngả màu | Ổn định | Ổn định |
| Gia công khoét bồn âm | Dễ | Dễ | Cần máy và thợ quen |
Đọc bảng theo thói quen nấu: nhà hay xào nấu lửa lớn, hay đặt chảo nóng xuống mặt thì granite hoặc đá nung kết hợp hơn. Nhà nấu nhẹ, thích màu trắng trơn sạch thì thạch anh là lựa chọn dễ sống.
Thạch anh nhân tạo: được gì, kỵ gì?
Thạch anh nhân tạo được ưa vì màu đều từ tấm này sang tấm khác, có nhiều màu trơn trắng, kem, xám đúng gu Japandi, Bắc Âu và Hàn. Bề mặt kín, ít thấm, nên vết cà phê, nước mắm lau sớm là sạch. Với căn hộ nhỏ cần sự gọn gàng, đây thường là lựa chọn đầu tiên.
Điểm kỵ là nhiệt. Phần nhựa gắn kết trong đá không thích nồi nóng đặt trực tiếp, có thể để lại vết ố hoặc gây nứt. Cách sống chung đơn giản: luôn có lót nồi gần bếp. Khu vực đặt nồi cơm điện, lò nướng mini cũng nên có tấm lót.
Điểm thứ hai là ánh nắng. Thạch anh nhân tạo không dành cho ngoài trời, và mặt bếp nằm dưới nắng chiếu thẳng qua cửa kính nhiều giờ mỗi ngày có thể ngả màu không đều. Bếp mở ra ban công hướng tây nên tính chuyện rèm hoặc chọn loại đá khác.
Chữ "nhập khẩu" với thạch anh cũng nên được hỏi lại. Thạch anh nhân tạo được sản xuất ở nhiều nước, kể cả trong nước. Tên tiếng nước ngoài trên mẫu đá không có nghĩa là hàng nhập. Muốn biết xuất xứ thì hỏi chứng từ, không hỏi tên mẫu.
Granite và đá nung kết: hai cách bền khác nhau
Granite là đá tự nhiên, cứng, chịu nhiệt và chịu xước rất tốt. Người nấu ăn nhiều thường quý granite vì có thể đặt chảo nóng mà không lo. Điểm cần chăm là lỗ rỗ tự nhiên: dầu ăn, nước màu có thể thấm nếu không được phủ chống thấm và phủ lại định kỳ. Màu tối thì vết thấm khó thấy; màu sáng thì lộ.
Granite hợp các phong cách cần vật liệu tự nhiên, nặng tay như Indochine, tân cổ điển, Mỹ truyền thống. Với Japandi, Bắc Âu, granite hạt to dễ làm bếp trông rối, nên chọn loại hạt mịn, tông trầm.
Đá nung kết là tấm làm từ khoáng chất nung ở nhiệt độ rất cao, nên chịu nhiệt, chịu nắng và gần như không thấm. Tấm thường mỏng và nhẹ hơn đá truyền thống, được chuộng cho bếp tối giản và cho mặt đảo bếp khổ lớn. Điểm khó là cạnh giòn: va mạnh vào cạnh hoặc góc có thể mẻ, và sửa chỗ mẻ không dễ.
Một chi tiết người bán ít nói: nhiều tấm đá nung kết có vân được in trên bề mặt, phần thân bên trong màu khác. Khi cắt cạnh thẳng, cạnh lộ thân sẽ không liền vân với mặt. Hỏi rõ loại tấm có vân xuyên thân hay không, và cách xử lý cạnh (vát góc, dán cạnh cùng vân). Khoét bồn âm, lỗ bếp từ trên đá nung kết cũng cần thợ có máy và kinh nghiệm, nên hỏi đơn vị đá đã làm loại này chưa.
Mặt đá đẹp vẫn có thể làm hỏng tủ gỗ bên dưới
Khe silicone quanh bồn rửa. Nước đọng quanh bồn ngấm qua khe silicone đã bong xuống mép ván thùng tủ. Kiểm và làm lại silicone khi thấy nứt.
Mặt đá không có rãnh nhỏ giọt. Ở mép trước, nước chảy theo mặt dưới đá vào cánh tủ. Hỏi đơn vị đá có làm rãnh hoặc vát chống chảy ngược không.
Khoét bồn âm quá sát thành tủ. Thành tủ không còn chỗ đỡ, đá chịu lực ở chỗ yếu. Cần phối hợp kích thước bồn với kích thước tủ từ lúc thiết kế.
Thùng tủ không đủ cứng cho đá nặng. Mặt đá đảo bếp dài, nặng cần thùng tủ có vách đỡ và chân tăng chỉnh chắc. Xưởng gỗ phải biết loại đá trước khi làm thùng.
Máy rửa chén ngay dưới mặt đá. Hơi nóng ẩm thoát ra khi mở máy phả vào mặt dưới đá và ván xung quanh. Nên có tấm chắn hơi theo khuyến cáo của hãng máy.
Đặt đá trước khi tủ ổn định. Tủ chưa cân chỉnh xong đã đặt đá thì sau đó chỉnh tủ sẽ làm đá chịu lực lệch.
Ốp tường sau bếp nối vào mặt đá. Khe giữa mặt đá và tường ốp phải được làm kín; nước rửa rau bắn vào khe này lâu ngày gây ẩm mép sau thùng tủ.
Chọn đá mỏng nhưng không gia cố. Đá mỏng cho mặt đảo phần vươn ra làm quầy ăn cần đỡ bên dưới; để vươn tự do là rủi ro nứt.
Thứ tự đặt đá cho khỏi hở và khỏi cãi nhau
Đá và tủ thường do hai bên khác nhau làm. Thứ tự đúng giúp tránh đổ lỗi qua lại.
- Chốt loại đá trước khi làm tủ. Để xưởng gỗ tính thùng tủ chịu tải và chừa chỗ cho bồn, bếp.
- Chốt thiết bị trước khi đo đá. Bồn rửa, bếp từ, vòi phải có mã cụ thể để khoét đúng kích thước.
- Lắp và cân chỉnh xong thùng tủ dưới. Đá đo theo tủ thật, không đo theo bản vẽ.
- Đo đá tại công trình. Đơn vị đá đo trực tiếp, kiểm góc tường có vuông không.
- Lắp đá, làm silicone, thử nước. Xả nước bồn rửa, kiểm khe, kiểm mặt dưới có rỉ nước không trước khi nghiệm thu.
Bộ bếp của mình có tủ gỗ và đá do nhiều bên phối hợp thì nên giao một đầu mối chịu trách nhiệm. Có thể gửi bản vẽ, ảnh mặt bằng và mẫu đá mình thích qua hotline 0918 832 283 hoặc email [email protected] để xưởng TuBep.com tư vấn thùng tủ hợp với loại đá và báo giá trọn bộ phần tủ (xưởng ở 96 Chiến Khu, phường An Phú Đông; văn phòng 210 Bùi Văn Ba, phường Tân Thuận, TP.HCM). Phần thùng tủ dưới đá được làm theo dòng ván khách chọn (thường, E1 hoặc CARB P2); thời gian sản xuất khoảng 1–3 tuần tuỳ quy mô, bảo hành 1–3 năm tuỳ hạng mục. Khi so báo giá, hỏi rõ phần đá đã gồm khoét bồn, khoét bếp, cạnh mài và vận chuyển lên tầng hay chưa.
Câu hỏi thường gặp
Đá thạch anh hay granite tốt hơn cho bếp?
Tuỳ cách nấu. Granite chịu nhiệt và xước tốt, hợp nhà nấu nhiều lửa lớn, nhưng cần phủ chống thấm. Thạch anh nhân tạo đều màu, ít thấm, dễ lau, hợp bếp tối giản, nhưng cần lót nồi nóng.
Đá nung kết có dễ vỡ không?
Mặt đá rất cứng và chịu nhiệt tốt, nhưng cạnh và góc giòn hơn đá truyền thống, va mạnh có thể mẻ. Cạnh nên được vát hoặc bo nhẹ. Khi vận chuyển và lắp cũng cần đơn vị quen tay với loại tấm này.
Đặt nồi nóng lên mặt đá thạch anh có sao không?
Không nên. Phần nhựa gắn kết trong thạch anh nhân tạo có thể ố hoặc nứt khi gặp nhiệt cao đột ngột. Luôn dùng lót nồi, nhất là với chảo vừa nhấc khỏi bếp.
Đá mặt bếp màu trắng có bị ố không?
Có thể, tuỳ loại. Thạch anh và đá nung kết ít thấm nên lau sớm thường sạch. Granite và đá cẩm thạch màu sáng dễ thấm dầu, nước màu nếu không phủ chống thấm.
Khi nào nên đo đá mặt bếp?
Sau khi thùng tủ dưới đã lắp và cân chỉnh xong. Đo theo bản vẽ trước khi lắp tủ dễ dẫn tới hở khe hoặc phải mài lại. Thiết bị bồn, bếp cũng phải được chốt mã trước khi đo.
Mặt đá phong cách Japandi nên chọn loại nào?
Japandi hợp mặt đá màu trơn hoặc vân rất nhẹ, bề mặt mờ, tông trắng ấm, be hoặc xám nhạt. Thạch anh nhân tạo và đá nung kết đều có nhiều mẫu như vậy. Granite hạt to dễ phá vẻ tĩnh của Japandi.